Thứ 6 - 26/02/2016
MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI, MỪNG ĐẢNG QUANG VINH, MỪNG XUÂN CANH TÝ 2020.
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
​Chủ tịch Hồ Chí Minh với biển đảo Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh với biển đảo Việt Nam

 

Nguyễn Thị Thu Hằng

Phòng Hành chính-Tổng hợp

 

Trong sự phát triển của một quốc gia có biển, bên cạnh việc tạo lập không gian sinh tồn, hình thành văn hóa, thiết lập quan hệ giao thương với lân bang, biển đảo còn giữ vai trò xác lập chủ quyền và an ninh quốc phòng trên biển. Nằm bên bờ Tây của biển Đông, với bờ biển dài trên 3.260km trải dài từ Bắc xuống Nam, Việt Nam đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia và vùng lãnh thổ có biển. Trong 64 tỉnh, thành phố của cả nước có đến 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển. Vùng biển và ven biển Việt Nam nằm trên con đường hàng hải huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Biển Việt Nam có trữ lượng lớn về dầu mỏ khí đốt, nguồn lợi hải sản phong phú và nhiều điều kiện phát triển du lịch. Riêng về quốc phòng - an ninh, biển Đông được ví như cửa ngõ, giữ vai trò là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước, trong đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại biển Đông và mục đích quân sự.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm thể hiện sự quan tâm đến biển đảo bởi đây là một phần lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam - Tổ quốc mà Người dành trọn cuộc đời để chiến đấu vì độc lập dân tộc và hạnh phúc nhân dân. Dòng sông, mặt biển còn là nơi in dấu lòng yêu nước nồng nàn cùng trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, nơi diễn ra bao chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của cha ông, mà Người từng được học trong sử sách và sau này chính Người cũng nhiều lần nhắc lại cho cán bộ, chiến sĩ cùng nghe. Trong hành trình ra đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh có những năm tháng gắn bó với biển nên Người hiểu rõ về tiềm năng và vị trí của biển. Khi dạy ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, Người thường đưa học trò đến chơi ở bãi biển Ghềnh Ráng. Thời gian làm phụ bếp trên những tàu buôn dài ngày lênh đênh trên đại dương, Người đã được ngắm nhiều cảnh biển cả hùng vĩ. Trên những chiếc tàu chở rượu ngon của Boocđô và Angiêri cho các thuộc địa, trong khi nhiều thủy thủ say rượu suốt thì mỗi ngày anh Ba dậy thật sớm để xem mặt trời mọc. Và trong những đêm trăng, anh hầu như không ngủ, anh đi đi lại lại trên tàu, ngắm trời ngắm bể. Thuyền đậu lại ở Têlêripho vào lúc hoàng hôn. Bể lặng sóng, hòn đảo giống như một cái chụp đèn khổng lồ để trên mặt bể, phía trên lóng lánh, phía dưới xanh xanh… Anh Ba nhắc đi nhắc lại: “Đẹp quá! Hùng vĩ quá” (1). Năm 1911, theo hải trình của tàu Đô đốc Amiran Latusơ Tơrêvin, Người có dịp đặt chân đến những thương cảng sầm uất, quan trọng như Macxây, Lơ Havơrơ, Đoongkéc, Normandy của Pháp. Năm 1912, làm thuê cho một chiếc tàu của hãng Sácgiơ Rêuyni đi vòng quanh châu Phi, Người đã dừng chân ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anggiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan, Rêuyniông và tận mắt chứng kiến sự phát triển của ngành công nghiệp từ biển ở nhiều nước. Vì vậy, Người hiểu tầm quan trọng của biển trong việc mang đến nguồn lợi phong phú phát triển kinh tế và biển còn là cửa ngõ đất nước, bảo vệ biển tức là bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.
Trong lúc công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giành độc lập, thống nhất ở miền Nam còn vô vàn khó khăn, với tầm nhìn xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá cao tiềm năng, lợi thế, vai trò quan trọng của biển đảo – một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng đất nước cũng như dành tình cảm yêu thương cho cán bộ, chiến sĩ hải quân và nhân dân miền biển. Nhiều lần Bác về công tác tại các tỉnh có biển Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, thăm vịnh Hạ Long, bãi biển Sầm Sơn, Trà Cổ, các đảo Tuần Châu, Cát Hải, Cát Bà, Cô Tô, Vạn Hoa, thăm vùng đất lấn biển Tiền Hải (Thái Bình)… Bác đến kéo lưới với ngư dân, Bác xuống thu hoạch khoai cùng bà con xã đảo. Đi kiểm tra nhiệm vụ canh giữ biển trời Tổ quốc của hải quân, Người quan tâm tìm hiểu, chia sẻ những thiếu thốn trong sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ. Người tặng ảnh cho các lực lượng vũ trang và nhân dân các đảo Cô Tô, Thanh Lân, Ngọc Vừng, Hòn Rều, tặng máy thu thanh để nghe tin tức cho chiến sĩ đảo Hòn Rồng, Cồn Cỏ… Tự hào về biển đảo Tổ quốc, ngày 22/1/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời anh hùng vũ trụ Liên Xô Ghec-man Ti-tốp đến thăm Hạ Long và giới thiệu về cảnh đẹp ở biển.
Đối với nhân dân miền biển và các đảo, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành một tình cảm quan tâm đặc biệt vì nhân dân cách xa thủ đô, lại ở nơi đầu sóng ngọn gió, đời sống còn nhiều thiếu thốn: “Thủ đô Hà Nội tuy cách xa các đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm đến đồng bào các đảo và mong đồng bào đoàn kết và tiến bộ” (2). Với vị trí đồng bằng là nhà, biển là cửa, Bác đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo vệ miền biển, tại Hội nghị cải cách miền biển ngày 10/4/1956, Người chỉ rõ: “Một nhiệm vụ quan trọng của đồng bào miền biển là phải bảo vệ bờ biển. Đồng bào miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc”, “nếu để nó lọt vào, thì người bị thiệt hại trước là đồng bào miền biển. Nếu mình không lo bảo vệ miền biển, thì đánh cá, làm muối cũng không yên” (3). Bác nhắc nhở muốn cải cách miền biển tốt phải dựa vào quần chúng: “Động viên, tổ chức, đoàn kết quần chúng. Lấy sức quần chúng mà vượt qua khó khăn” (4) vì theo Người, sự nghiệp cách mạng là của quần chúng, chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người, chứ không phải chỉ bằng thành tích nổi bật của một số cá nhân anh hùng và càng ở nơi hiểm yếu thì việc dựa vào dân càng quan trọng. Người nhấn mạnh yêu cầu đoàn kết “một chiếc thuyền phải có người chèo, phải có người lái. Chỉ có người chèo không có người lái cũng không được. Cho nên người chèo và người lái phải đoàn kết với nhau” (5). Quan tâm đến việc tổ chức nhân dân cải thiện đời sống, Bác yêu cầu cán bộ bên cạnh nắm vững đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ một cách thiết thực, tránh máy móc, phải hướng dẫn nhân dân làm cá, làm mắm, làm muối. Nói chuyện với công nhân thủy thủ tàu HC.15 cảng Hải Phòng, Bác đề cao vai trò của cảng biển: “Muốn xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa phải có công nghiệp hiện đại, giao thông vận tải hiện đại, cảng hiện đại” (6). Vì vậy, công nhân bến cảng “phải sản xuất để có năng lực bốc dỡ cao, sử dụng hết công suất máy móc. Phải giữ gìn an toàn con người, an toàn bến cảng” (7).

Dù bận rất nhiều công việc hệ trọng của đất nước nhưng Bác vẫn luôn dành thời gian khảo sát tình hình thực tế miền biển. Người xuống bãi biển kéo lưới, ra khơi buông câu với ngư dân. Bằng tác phong giản dị, gần gũi, tuyệt đối không phô trương, hình thức, Bác đến với dân như người thân trở về với gia đình. Ngày 5/10/1957, đi thăm nhiều cảnh đẹp của vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Bác neo thuyền câu cá với bà con ngư dân. Thấy một người vì ngâm lâu dưới nước bị lạnh, Bác đã tự mình vào khoang lấy chiếc điếu cày cho người đó hút thuốc để nhanh ấm lại. Đến bữa cơm, Bác tự mình đơm bát cơm đầy và khúc cá to nhất cho người đó. Bác nói: “Hôm nay chú làm nhiều, chú phải ăn nhiều”. Sau chuyến kiểm tra vùng đảo Đông Bắc, sáng ngày 1/4/1959, khoảng thời gian bắt đầu vụ cá Nam – vụ chính trong năm, Bác cùng ngư dân đánh cá trên vùng biển Tuần Châu và căn dặn “biển bạc của ta do nhân dân ta làm chủ”. Sau này, để ghi nhớ tình cảm của Bác, ngày 1/4 được chọn là ngày truyền thống nghề cá Việt Nam. Tháng 7/1960, đến Sầm Sơn (Thanh Hóa), Bác nói chuyện với ngư dân xóm Vinh Sơn, xã Quảng Vinh, huyện Quảng Xương, quan tâm tìm hiểu tình hình đời sống kinh tế của đồng bào và tới thăm một gia đình ngư dân sống cạnh bãi biển. Như bao chuyến đi cơ sở khác, Bác đến thường không báo trước, tránh trống rong, cờ mở, xe đưa, người đón. Nhà nhiếp ảnh Kim Côn kể lại: “Cải trang như một lão ngư, quần cộc, áo nâu cộc, đội mũ không có chóp và quấn chiếc khăn bông quanh cổ để che bớt chòm râu, Bác cùng đoàn công tác vào thăm một xóm chài. Thấy nhà nào cũng đóng cửa, Bác đi một đoạn rồi rẽ vào một gia đình có cụ già đang ngồi. Bác chào cụ, thấy cụ chủ nhà có vẻ cởi mở, Bác hỏi: “Thưa cụ, đời sống dân xóm chài dạo này ra sao ạ?”. Không ngần ngại ông cụ trả lời: “Nhờ ơn Đảng và Chính phủ dân chài chúng tôi no ấm và hạnh phúc lắm ạ!”. Bác dẫn đoàn dẫn xuống tận bãi cá. Thấy mấy lão ngư đang choãi chân thang kéo lưới, Bác liền xắn tay làm cùng. Bác kéo lưới rất thành thục, say sưa không khác gì một lão ngư thực thụ. Mải làm, mình đẫm mồ hôi, Bác cởi áo, rồi bỏ cả khăn mặt quấn cổ. Kéo lưới xong, Bác lại đến nhặt cá cùng ngư dân và vui vẻ nói chuyện với họ” (8).

Từ năm 1957-1965, nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm các tỉnh ven biển, thăm vịnh và kiểm tra các đảo. Trong những nơi từng ghi dấu hơi ấm tình thương của Người, Cô Tô, đảo nằm giữa trùng khơi của Quảng Ninh, còn lưu giữ được nhiều tài liệu hiện vật đáng nhớ. Đây là nơi duy nhất được Bác đồng ý cho phép dựng tượng khi Người còn sống. Ngày 9/5/1961, thăm Cô Tô giữa lúc đồng bào đang tích cực chuẩn bị cho vụ cá sắp tới và hăng hái làm thủy lợi chuẩn bị cho vụ mùa, nói chuyện với hơn 2.000 đồng bào, cán bộ, bộ đội trên khu đồi sim đang mùa hoa nở, Người dặn dò mọi người trên đảo những công việc cụ thể cần làm tốt để các đảo thiết thực góp phần vào sự nghiệp chung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Bác dặn đẩy mạnh nghề đánh cá, làm muối, nuôi dưỡng, bảo vệ hải sâm, trân châu; chú ý cải tiến kỹ thuật và trồng dâu nuôi tằm để có lưới tốt. Người còn dành thời gian đi thăm cánh đồng muối, xem bới khoai và dừng lại trò chuyện cùng bà con. Ngày 12/6/1969, Bác lại gửi ảnh tặng đồng bào và lực lượng vũ trang trên đảo với dòng chữ “Chào thân ái và quyết thắng” do chính tay Người viết. Để lưu giữ mãi hình ảnh Bác đến Cô Tô, nhân dân và bộ đội trên đảo xin phép được dựng tượng của Người. Đầu năm 1968, tượng đài Bác được nhà điêu khắc Nguyễn Văn Quế cùng các đồng nghiệp bắt tay vào thực hiện. Công trình được khánh thành ngày 22/5/1968, nhân dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 78 của Người. Có lẽ việc Bác đồng ý xây tượng mình trên đảo là sự khẳng định về chủ quyền trên vùng biển Tổ quốc? Sau này, trong hệ thống tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tượng đài Bác trên đảo Cô Tô vẫn giữ một vị trí rất đặc biệt. Tượng Bác uy nghiêm hướng ra biển Đông đứng giữa bốn bề sóng nước mênh mông không chỉ được định lượng bằng chiều cao, bề rộng của những con số mà còn được cảm nhận bằng tình yêu Tổ quốc và lòng tự hào dân tộc.

Đối với hải quân nhân dân Việt Nam canh giữ biển trời Tổ quốc giữa trùng khơi sóng gió, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm, giáo dục tuy nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, thấm thía để rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trưởng thành cả trong công tác lẫn đời sống. Người cũng luôn chú ý theo dõi và kịp thời động viên, biểu dương tinh thần chiến đấu cùng những chiến công của lực lượng. Ngày 5/10/1957, trong chuyến thăm vịnh Hạ Long và hang Đầu Gỗ (Quảng Ninh), Bác đã nói chuyện với đoàn cán bộ đi cùng về truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông trong lịch sử và trách nhiệm giữ gìn cảnh đẹp thiên nhiên. Xác định biển đảo cũng như những miền biên ải trọng yếu khác cần chắc tay súng bảo vệ, Người dành thời gian đến với lực lượng hải quân và kiểm tra vùng đảo Đông Bắc Tổ quốc. Trong chuyến thăm, Người yêu cầu chiến sĩ hải quân phải giữ nghiêm kỷ luật quân đội, nâng cao tinh thần cảnh giác. Về đời sống, Người nhắc tận dụng tiềm năng dồi dào sẵn có của biển và chú ý tăng gia sản xuất cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Đồng chí Nguyễn Thế Trinh, khi ấy là Hiệu trưởng trường Huấn luyện Hải quân kể: “Giữa tháng 3/1959, tôi được triệu tập lên Bộ Tổng Tham mưu để nhận một nhiệm vụ đặc biệt: chuẩn bị kế hoạch đưa Bác Hồ đi thăm biển, đảo tại Hải Phòng và Quảng Ninh. Đúng 8 giờ sáng ngày 30/3, đoàn xe của Bác dừng tại cổng trường. Bác đội mũ cát trắng, chân đi dép cao su giản dị. Bác vẫy tôi lại gần, nhẹ nhàng: “Đi công tác với Bác lần này, Bác miễn cho các chú mọi thủ tục và nghi lễ chính quy nhé!”. Bác xuống tàu đi thăm và kiểm tra một số đơn vị trên vùng biển Hạ Long. Ở mỗi nơi đến thăm, Người luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Anh em căng bạt che mái, kê bàn ghế để Bác và các đồng chí trong đoàn ngồi nghỉ. Bác không ngồi mà đi hết mũi, xuống lái tàu rồi lại vòng lên mui. Thăm nơi ở, bếp ăn, Bác nhắc nhở: “Nuôi quân là quan trọng lắm, quân có khỏe thì mới học tập được”. Khi tàu vào vịnh Hạ Long, ngay đảo Tuần Châu, Bác nhắc đồng chí Vũ Kỳ để đồng chí Tổng công trình sư lên đảo, chuẩn bị mọi mặt để khi Bác lên đảo sẽ nghe báo cáo thiết kế xây dựng khu nhà nghỉ của Quốc hội ở đây. Gần trưa anh em múc chậu nước ngọt mời Bác rửa tay, Bác hỏi: “Dưới tàu các chú mỗi người dùng bao nhiêu lít nước ngọt một ngày?”, “Thưa Bác, mỗi người chúng cháu dùng 50 lít một ngày. Nhưng đi công tác với Bác, chúng cháu chuẩn bị nhiều nước ngọt nên dùng thoải mái ạ” - anh em thưa. Bác bảo: “Khi đã xuống tàu phải chấp hành mọi quy định của tàu, ai cũng phải thế. Nếu các chú bảo nhiều nước dùng thoải mái, ít nước dùng ít thì còn gì là quy định nữa”. Bác nói thêm: “Nước ngọt trên tàu khi đi biển là rất quý. Để bảo đảm đủ nước sinh hoạt phải có quy định. Đến tối rửa một thể”. Cuối cùng Bác không rửa, kể cả khi lội xuống nước vào đảo và từ đảo lên tàu Bác cũng không rửa nước ngọt. Buổi trưa, Người cho tàu neo tại chân đảo Hòn Rều và lên bờ nghỉ. Người xẻ cơm nếp, thịt rang mang từ Hà Nội xuống cho các đồng chí làm nhiệm vụ dưới tàu. Sau khi đến Cửa Ông – Cẩm Phả, đi thăm và nói chuyện với cán bộ, công nhân mỏ Đèo Nai, xuống tàu trở về bến cảng Hòn Gai, Người hỏi: “Có đi tiếp đảo Tuần Châu được không?”. Được báo cáo nếu đi Tuần Châu thì sẽ phải ăn tối muộn, Người nói: “Thế thì ta ăn tối trên tàu”. Chiều tối, Người nói chuyện với cán bộ, nhân dân đảo Tuần Châu và ghé thăm hai gia đình trên đảo. Sau khi thăm đảo, Bác trở về tàu 524, cán bộ, chiến sĩ trên tàu mời Bác ở lại ăn cơm. Bác vui vẻ nhận lời: “Để Bác xem các chú nấu ăn có giỏi không?”. Bác xuống bếp, nhìn quanh một lượt, khen bếp sạch, ngăn nắp. Bác đang xem ngăn để gia vị, hành tỏi, chợt quay lại bảo: “Chú nấu cơm khê rồi”. Trong lúc mọi người chưa biết xử lý thế nào thì Bác bảo: “Chắc các chú đói rồi, cơm hơi khê, không việc gì, ta ăn thôi”. Lúc đang ăn, Bác gọi đồng chí phục vụ mang lên đĩa cá rô phi rán. Nhìn đĩa cá, Bác bảo: “Ở giữa biển, Bác mời các chú ăn cá”. Cá là của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh biếu. Bác muốn nhắc nhở sống ở khu vực có biển phải biết giăng lưới, thả câu, bắt cá để cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Khi sẻ cơm cho từng người, Bác bảo: “Các chú ăn cơm với Bác hoặc ăn cơm phải ăn hết thức ăn, không được để thừa, thừa đổ đi thì lãng phí, để người khác ăn thừa mình thì không được”. Tàu cập cảng Bãi Cháy. Buổi tối, Bác gặp và nói chuyện với cán bộ Khu ủy Hồng Quảng. Sau đó, Người cho xe ô tô đón cán bộ, chiến sĩ trên tàu 524 lên thăm hỏi. Rót nước và chia kẹo cho từng cán bộ, chiến sĩ, Người nhắc nhở các thủy thủ phải yêu biển, đã có tàu phải chịu khó học tập kỹ thuật để sử dụng tàu cho tốt, chiến đấu cho giỏi. Ngày 31/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm tàu hải quân 254 tại quân cảng Bãi Cháy và trận địa pháo của Đại đội 34 trên đảo Hòn Rồng làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển Hạ Long. Trên đường đi, Bác tranh thủ nghe báo cáo về tình hình ở đảo Hòn Rồng: ta đã tổ chức được một đảo quan sát nhưng đời sống vật chất, tinh thần của anh em còn thiếu thốn. Tàu cập gần chân đảo, xuồng đi theo một cái lạch nhỏ, lúc vướng đá phải lội xuống đẩy. Thấy anh em cầm sào đẩy xuồng còn lúng túng, Bác chỉ cách dùng sào, cuộn dây mồi sao cho đẹp, cho chặt mới ném đi được xa và cả những động tác của người thủy thủ khi tàu rời bến, cập bến. Xuồng cập bờ, thăm nơi ở, làm việc, Bác hỏi đảo có nước ngọt không? Một đồng chí thưa: Thưa Bác, ở đây nước ngọt khó khăn phải chở từ đất liền ra, bể chứa lại nhỏ. Bác giao nhiệm vụ cho đồng chí Bí thư khu ủy Hồng Quảng: “Chính quyền địa phương phải giúp các chú ấy xây thêm một bể chứa nước nhé” và hỏi tiếp luôn “bao giờ làm xong?”. Người bảo đồng chí cán bộ Tổng cục Hậu cần đi theo nghiên cứu, đảm bảo mỗi tuần anh em có thể tắm hai lần bằng nước ngọt và hứa gửi tặng cán bộ chiến sĩ trên đảo một chiếc máy thu thanh. (Hơn một tuần, sau khi Bác về tới Hà Nội, đài đã đến tay anh em trên đảo). Kiểm tra nơi ăn chốn ở trên đảo xong, Bác quay về sân doanh trại nói chuyện với đơn vị và căn dặn cán bộ, chiến sĩ cố gắng khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, tích cực học tập chính trị, quân sự, văn hóa. Trong xây dựng lực lượng, Người nhấn mạnh: “Các chú phải nhớ xây dựng hải quân của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam chứ không phải hải quân của thế giới”, “các chú ở đây khó khăn, xa gia đình, phải cố gắng khắc phục khó khăn. Ở đây mát, nhưng không phải nghỉ mát mà làm nhiệm vụ”. Khi đó khí tài quan sát còn thô sơ, Bác bảo sau này sẽ trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, tầm nhìn sẽ xa hơn. Lúc nhận trứng, bí của đơn vị tặng, Người nói: “Bác rất quý quà này, vì các chú tự làm ra”. Rời đảo Hòn Rồng đến thăm đảo chính, nơi có trận địa pháo của Trung đoàn 244 phòng thủ từ Cửa Vạn vào vịnh Hạ Long, Bác yêu cầu cần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu: “Có khi 24 giờ sẵn sàng, nhưng chỉ còn mấy phút lơ là thì 24 giờ sẵn sàng ấy cũng mất giá trị”. Tới hội trường hợp tác xã đánh cá mới thành lập trên đảo Cát Hải, Bác thăm hỏi sức khỏe, tình hình sản xuất, đời sống nhân dân và dặn đồng bào phối hợp với bộ đội hải quân cảnh giác bảo vệ vùng biển đảo. Rời Cát Hải, Bác đến đảo Cát Bà. Kết thúc chuyến kiểm tra một số đảo vùng Đông Bắc, Người thăm trường huấn luyện hải quân và căn dặn: “Nhà trường là nơi đào tạo cán bộ, nhân viên kỹ thuật cung cấp cho cả Quân chủng Hải quân non trẻ. Bây giờ còn ít, sau này sẽ nhiều. Có cán bộ và nhân viên kỹ thuật tốt, thì mới có hải quân tốt được. Nhà trường ngoài việc đào tạo ra còn phải nghiên cứu khoa học kỹ thuật mang màu sắc của Hải quân Việt Nam. Thủy quân của ông cha ta trước đây có một lịch sử, truyền thống oanh liệt lắm. Các chú phải học tập phấn đấu không ngừng để bản thân tiến bộ và xây dựng Hải quân mau chóng trưởng thành”. Cuối cùng Bác nói: “Trong chuyến đi công tác, các chú đã tạo điều kiện cho Bác công tác tốt. Bác cảm ơn”. Nhận bông hoa đá các học viên tặng, Bác nói: “Hoa đá đẹp mà không ăn được. Giá các chú biếu Bác quả bầu, quả bí trồng được để Bác mang về nấu canh, rồi mời các đồng chí trong Trung ương cùng ăn thì Bác càng vui hơn”.
Sau chuyến kiểm tra vùng đảo Đông Bắc này, ngày 16/3/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại thăm Hải Phòng, vịnh Hạ Long và một đơn vị hải quân Việt Nam. Nghe báo cáo về sự phát triển các đơn vị tàu chiến đấu, Bác khen ngợi: “Các chú có nhiều cố gắng thế là tốt. Hiện nay tàu bè, vũ khí của ta chưa nhiều, phải từng bước, từng bước xây dựng. Trước mắt giữ gìn những gì đã có để có thể đánh địch khi cần thiết” và dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó. Bờ biển ta có vị trí rất quan trọng. Vì vậy nhiệm vụ của hải quân trước mắt cũng như lâu dài rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Phải biết tìm ra cách đánh phù hợp với điều kiện con người, địa hình bờ biển nước ta và vũ khí trang bị mình có”. Lúc thuyền đưa Bác vào thăm hang Đầu Gỗ - nơi xưa kia Trần Hưng Đạo đóng cọc gỗ cắm trên sông Bạch Đằng chống quân Nguyên - Mông xâm lược, Bác nói: “Hải quân ta phải học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại nhưng không được quên truyền thống đánh giặc xa xưa kia của tổ tiên…”. Trong chuyến thăm đảo Tuần Châu, Ngọc Vừng và quân cảng Vạn Hoa (Quảng Ninh) ngày 13/11/1962, đứng trên đảo nhìn sang phía Cửa Mô trước mặt, Bác kể cho cán bộ, chiến sĩ hải quân nghe về danh tướng Trần Khánh Dư thời Trần dùng mưu đánh chiếm đoàn thuyền tiếp lương của quân Nguyên sang xâm lược nước ta. Người nhắc nhở “phải yêu quý đảo như yêu quý nhà mình, chịu khó cải tạo xây dựng thành những mảnh đất vừa giàu, vừa đẹp có lợi cho mình lại có lợi cho đất nước”. Lần cuối cùng thăm Quảng Ninh, ngày 2/2/1965, ở Bãi Cháy, Bác nói với các đồng chí cùng đi: “Chúng ta cố gắng xây dựng thêm ở đây. Sức của và sức người của chúng ta còn nhiều”. Trong những ngày đế quốc Mỹ điên cuồng ném bom phá hoại, khi biết tin cán bộ, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị) chiến đấu dũng cảm, mưu trí bắn rơi máy bay Mỹ, Người gửi thư khen: “Cồn Cỏ xứng đáng là đảo nhỏ anh hùng” và tặng hai câu thơ “Cồn Cỏ nở đầy hoa thắng trận/ Đánh cho tan xác giặc Hoa Kỳ”. Kỷ niệm lần thứ 10 ngày thành lập Quân chủng, ngày 5/8/1965, Bác gửi thư cho cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Hải quân khen ngợi thành tích trong chiến đấu và xây dựng của lực lượng: “Tuy còn non trẻ, nhưng nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự tin yêu, giúp đỡ của nhân dân, sự cố gắng không ngừng của mình, hải quân ta đã anh dũng chiến đấu, tích cực diệt địch, bắn rơi máy bay và đánh đuổi tàu chiến Mỹ, đoàn kết lập công, bảo vệ nhân dân, bảo vệ vùng trời và vùng biển của Tổ quốc. Các chú đã nêu cao truyền thống anh hùng của dân tộc ta”.
Trong tình hình hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về biển đảo vẫn mang tính thời đại sâu sắc. Lời Bác dặn “nơi hiểm yếu không chỉ cần súng lớn mà còn cần phải có lòng trung với Đảng, hiếu với dân” như lời nhắc nhở về ý chí giữ gìn từng tấc đất, tấc biển quê hương. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà hoạt động cách mạng lấy hành vi và chính sự gương mẫu để truyền đạt những tư tưởng thâm sâu của mình và tạo nên niềm tin tập hợp mọi người vào một mục đích chung nên Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề lời nói đi đôi với việc làm, lý luận gắn với thực tiễn. Những chuyến đi về biển đảo cũng như sự quan tâm đến nhân dân bằng phong cách quần chúng gần gũi của Người để lại bài học sâu sắc cho cán bộ, chiến sĩ hải đảo học tập, làm theo trong thực thi nhiệm vụ canh giữ, bảo vệ chủ quyền Tổ quốc và giúp nhân dân vững vàng trước sóng gió, ổn định và xây dựng đời sống. Để thực hiện những lời căn dặn sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo vệ chủ quyền biển đảo và khai thác nguồn lợi từ biển, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm “đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển, giàu lên từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển đảo” như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) khẳng định.
Từ những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay, trên biển Đông luôn tồn tại những tranh chấp biển đảo quyết liệt và phức tạp, tiềm ẩn nhân tố mất ổn định, tác động đến quốc phòng và an ninh. Do vị trí địa - chính trị Việt Nam liền kề với nước láng giềng khổng lồ Trung Quốc nên dân tộc Việt Nam hiểu rõ hơn ai hết về hiểm họa tiềm tàng chưa bao giờ dứt này, nhất là từ khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD 981 trên vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của nước ta thì vấn đề chủ quyền biển đảo, chủ quyền quốc gia càng trở thành mối quan tâm hơn bao giờ hết. Khi trả lời câu hỏi của nhà báo Pháp Danielle Hunebel, cơ quan phát thanh – truyền hình Pháp ORTF: “Có một vài ý kiến cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở hoàn cảnh khá cô lập và nói một cách chính trị, khó có thể tránh khỏi trở thành một thứ vệ tinh của Trung Quốc. Ông có thể nói gì về việc này?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không một giây do dự, dằn giọng trả lời “Không bao giờ”! Người đã diễn đạt một cách cô đọng và thấm thía nhất lời nguyền của cha ông ta từ thuở “Các vua Hùng đã có công dựng nước” và nay các thế hệ Việt Nam phải biết cách “giữ lấy nước”. Đó cũng là ý chí không gì lay chuyển nổi của cả dân tộc trong cuộc đấu tranh giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền biển đảo quốc gia, quyết tâm chống lại hành vi của kẻ xâm lược láng giềng, giữ yên vùng biển, vùng trời Tổ quốc: “Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát/ Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời/ Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất/ Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi” (9).


Chú thích: 

(1) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tr27.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, 1996, tập 10, tr354-355.
(3), (4), (5) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, tập 10, tr308-311.
(6), (7) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, tập 10, tr561-562
(8) Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ, Văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh tập 4, tr351.
(9) Thơ “Tổ quốc nhìn từ biển”, Nguyễn Việt Chiến.

Nguồn "ditichhochiminhphuchutich.gov.vn"

 


Liên kết website

Số lượt truy cập

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN THỐNG NHẤT - ĐỒNG NAI

Cơ quan chủ, quản: Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất 
Chịu trách nhiệm: Ban biên tập Website 
Địa chỉ: Ấp Lập Thành, xã Xuân Thạnh, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai 
Điện thoại: (02513).771172; Email: pvhtt-tn@dongnai.gov.vn​