Thứ 6 - 26/02/2016
Nhiệt liệt chào mừng 49 năm ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2024)
Toàn dân tham gia cài đặt ứng dụng VNeID và kích hoạt tài khoản định danh điện tử
Chủ động tìm hiểu, gương mẫu tuân theo Hiến pháp và pháp luật là trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
Toàn dân tích cực hưởng ứng cuộc vận động " Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây

Di tích - Văn hóa

Di tích Lịch sử, Văn hóa Đình Hưng Lộc

 

1. Sơ đồ về Đình Hưng Lộc:

Đình Hưng Lộc được khởi dựng vào năm Duy Tân thứ 6 (Nhâm Tý - 1912), đây là ngôi đình có thời đại sớm nhất huyện Thống Nhất. Trong quá trình tồn tại từ khi thành lập cho đến nay, đình Hưng Lộc đã trải qua 3 lần chuyển vị trí, lần cuối cùng vào năm 1963 cũng là niên đại của ngôi nhà hiện tại. Từ ngày khởi dựng đến nay, đình Hưng Lộc vẫn là nơi bảo lưu phong tục thờ Thần Hoàng làng và các bộ hạ thần cùng các bậc Tiền hiền, Hậu hiền, Tiên sư; nơi nhân dân gửi niềm tin tâm linh vào thần thành hoàng; nơi tổ chức lễ hội và sinh hoạt cộng đồng của nhân dân địa phương. Đặc biệt đình còn lưu giữ sắc thần của vua Khải Định phong năm 1917 - đây là một di vật quan trọng, là niềm tự hào của nhân dân làng Hưng Lộc xưa và xã Hưng Lộc ngày nay, đây là một giá trị văn hóa mà ít làng Nam bộ vẫn được giữ.

Đình Hưng Lộc ra đời nhắm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân làng Hưng Lộc. Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại ở địa điểm Gia Nhang và Suối Bí, đình đã ghi dấu những sự kiện hoạt động mạng của Đội Thanh niên Tiền phong, Đội du kích, Quận ban Tự quản lý Hưng Lộc và Đại đội La Cùng một mạng cơ sở ở địa phương. Những sự kiện lịch sử cách mạng quan trọng này đã góp phần vào chiến thắng của cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở khu vực Hưng Lộc, Thống Nhất mùa Thu năm 1945 và tạo nên lợi ích chung trong cuộc chiến chiến chống thực dân Pháp ở vùng Hưng Lộc - Thống Nhất.

Trong thiết kế văn hóa làng, đình Hưng Lộc là cơ sở tín hiệu có tính chất chính, được coi là nhà công cộng của làng, có chức năng thờ Thần Thành hoàng làng, nơi tổ chức hội nghị, lễ hội; nơi các bô lão, chức sắc, nhân dân bàn công công làng,… Đình cũng là nơi dân làng Hưng Lộc gửi niềm tin tâm linh của mình vào Thần Thành hoàng. Họ luôn tôn kính và biết ơn Thần đã bảo vệ, che chở và phù hộ cho dân làng có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.  

Bên bờ đó, các giá trị văn hóa phi vật thể như nội dung sắc Thần, hoành tráng, liễn đối, các tác phẩm chạm khắc… mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc giúp thế hệ trẻ hiểu biết thêm về lịch sử của làng, công cha ông đã dựng làng, giữ nước. Từ đó góp phần giáo dục thế hệ trẻ Hưng Lộc - Thống Nhất tiếp xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn.

Di tích đình Hưng Lộc mang tính biểu tượng kiến ​​trúc đình Nam bộ với dạng nhà chữ Tam. Các loại sản phẩm Chánh điện, Hậu đình kiểu tứ trụ, mái giống bánh ít.

Bên cạnh giao thông kiến ​​trúc, một số hiện vật trong di tích là những sản phẩm nghệ thuật có giá trị cao như: hương án thờ Thần thánh được nhẹ nhàng với các đề tài cân long chầu nhật, bài hát Phụ, nền mây hoa lá…

Trải qua một thời gian dài kể từ khi khởi động đến nay, đình Hưng Lộc đã ba lần chuyển đổi và từ năm 1965 đã nhiều lần trùng tu, sửa chữa. Tuy nhiên, những lần trùng tu này không làm thay đổi nhiều yếu tố gốc của di tích. Đặc biệt là ý thức bảo quản, khép kín trang web của nhân dân làng Hưng Lộc có thể hiện rõ thông qua công việc xây dựng cổng, hàng rào tường rào…

Tuy nhiên, dưới tác động của các yếu tố tự nhiên, hiện nay có một số cấu trúc gỗ (cột, vì bo..) của di tích bị mối mối hư hại nhẹ; Sông nước ở Tiền đình, Hậu đình bị nước gây nguy hiểm. Mức độ hư hỏng khoảng 10%.

Hiện nay, di tích đã có rào chắn xung quanh bảo vệ. Công tác bảo vệ môi trường sinh thái trong di tích rất tốt. Đình có ông từ ngày đêm lo việc hương khói, quét lên, lau bàn thờ, đồ thờ, tiền cây… đảm bảo cho di tích luôn sạch sẽ, thoáng mát.

Những hiện vật trong đình được bảo quản tốt và chứa rất kỹ thuật. Toàn bộ những vật dụng hiện có chỉ được cung cấp trong các dịp lễ dịp lễ của đình, sau đó cửa hàng ngay lập tức tránh sự hư hỏng và đặc biệt là đề phòng kẻ đột nhập vào đình lấy trộm.

Di tích thuộc quyền quản lý của Ban Quý tế đình Hưng Lộc, được coi là quan tâm của địa phương và phòng Văn hoá thông tin huyện.  

Với những giá trị lịch sử, văn hóa tiêu biểu trên, đình Hưng Lộc đủ tiêu chí phân hạng di lịch sử cấp tỉnh trong năm 2008, nhân dịp kỷ niệm 310 năm hình thành và phát triển vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai ( 1698 - 2008).

2. Các hoạt động văn hóa trong Lễ hội An Yên:

Nghi thức lễ hội ở các làng làng Nam bộ nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng về cơ bản là giống nhau. Tuy nhiên, từng địa phương với tập quán sản xuất, sinh hoạt khác nhau nên nghi thức lễ hội có sự biến đổi cho phù hợp. Đình Hưng Lộc tổ chức Lễ Kỳ Yên vào ngày 20, 21 tháng 11 âm lịch.

Trước ngày tổ chức Lễ Kỳ Yên, Ban Tế lễ được thành lập khoảng 20 người bao gồm các vị trí trong Ban Quý tế, học trò chơi lễ, bố lão ở làng và những người có chức trách nhiệm trong công việc bảo đảm lễ diễn ra thành công tốt đẹp , trả lại nhiều may mắn, tốt đẹp cho làng xã.

Mục tiêu của tổ chức Lễ hội Kỳ Yên là cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa bội thu, đất nước thái bình, nhân dân yên ổn, con cái trong làng học hành hành đạt… Ngoài việc cầu cho “người yên , vật chất” còn có Lễ Tống phong để xua đi những bệnh dịch, tà ma ác quỷ ra khỏi làng. Lễ Kỳ yên cũng là dịp để dân làng trưng bày, trao đổi công việc gia đình, làm ăn buôn bán, mùa ngủ, con cái học hành hành đạt, xây dựng gia đình, tổ ấp văn hóa…

Theo lời kể của các vị thanh niên cao niên ở làng thì vào khoảng thập niên 90 của thế kỷ XX trở về trước, vào mỗi dịp Lễ Kỳ Yên, đình đều tổ chức các trò chơi mang đậm tính dân gian, cộng đồng như kéo co, đưa viết, đập niêu, cờ tướng,cho gà, đi cà kheo, thi nấu cơm… cho dân làng tham gia trẩy hội.

Hàng năm cứ vào các dịp Lễ Kỳ yên nhân dân Hưng Lộc tề Đống đông đảo để tham gia rất thành kính, nhiệt tình có hàng ngàn dân tham gia tạo cho lễ hội truyền thống của địa phương thêm ý nghĩa, đông vui và hoàng nhiệt độ hơn. Lễ Kỳ Yên tại đình Hưng Lộc thực sự là ngày hội của nhân dân địa phương.

Ngày nay, do sân đình thu hẹp, thời gian tổ chức Lễ Kỳ Yên cũng không kéo dài như trước nên các trò chơi này đã bị mai một và đi vào quên lãng. Nhìn chung, dưới tác động của nền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hóa, làng Hưng Lộc xưa - xã Hưng Lộc ngày nay có nền kinh tế phát triển nhanh chóng nhưng việc tổ chức lễ hội tại đình vẫn được tiến hành theo nghi thức truyền thống của làng làng Nam bộ, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham dự. Lễ hội là dịp để dân làng trưng bày, liên kết tình làng nghĩa xóm trong nhịp sống đô thị hả ngày nay.  

3. Các hoạt động của địa phương được tổ chức tại Đình:

Ngày nay, đình Hưng Lộc vẫn là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng của nhân dân xã Hưng Lộc. Việc thờ Thần Thành hoàng làng và lễ Kỳ Yên vẫn được duy trì. Ngoài ra, hàng năm vào ngày tổ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch) và kỷ niệm ngày Thương binh Liệt Sĩ (27/7), nhân dân xã Hưng Lộc lại tề Tặng về đình Hưng Lộc làm lễ dâng hương, chứng minh xin thành kính các vị Vua Hùng và tri ân các anh hùng liệt sĩ đã xả thân vì nước. Trong xu thế phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu ngưỡng tín hiệu của nhân dân thời đại mới, đình Hưng Lộc vừa bảo tồn phong tục truyền thống thờ Thành hoàng; vừa là nơi thờ Bác Hồ, tổ chức lễ giỗ Tổ Hùng Vương và tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ của xã Hưng Lộc. Ý nghĩa bầu cử đã đưa ra nền tảng “ văn hóa làng xã ” cổ truyền hòa với nền văn hóa XHCN trong thời kỳ mở cửa và hội nhập, tạo thành một truyền thống tốt đẹp của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương.



​DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA ĐÌNH DẦU GIÂY

Dân tộc Việt Nam vốn tự hào có 4000 năm văn hiến và trải qua các làn lưu tiến hóa, thăng trầm của xã hội, đã cải tiến đổi mới về mọi mặt, nhưng tâm linh tính ngườn vẫn tồn tại trong ký ức tâm khảm của con khỉ chúng tôi ta qia các lớp thế hệ và lưu truyền cho con cháu kế mãi mãi về sau.

Nói về sự tôn sùng kinh Phụng, ở nhà thì có tổ tiên, ông bà cha mẹ để tri ân báo nguy, ở xã hội cộng đồng tập thể như ở làng thì có chùa, đình am, miếu.. tùy theo thức thức của mỗi người dân để sinh hoạt tín hiệu.

Ngọc giới như đình, tôn giáo kính phụng thờ thần linh, các thánh bình sanh là các thánh bình sanh là các bậc khai quốc công thần, hoặc các bậc quan tướng trấn an tại địa hạt, đến lúc lâm chung xét nghiệm thấy vị quan đó trung quân quốc các vị vua ban Sác phông thần, vì vậy mỗi làng chỉ có một đình thần hoàng mà thôi, nếu đình nào có sắc ấn thì các ngài là căn cứ của rồng chúng ta và mục tiêu cầu vọng là mong thần thần tiên cho tổ quốc được độc lập – Tự do-hạnh phúc, cho địa phương được vinh thịnh thịnh vượng, mưa hòa gió thuận lợi, món an, vật lợi, hòa kết thương yêu nhau, hành động và tư tưởng này như các miền Bắc, Trung, Nam chúng ta đều có thể hiện tại.

Bởi vậy khi đặt chân đến địa chỉ Dầu Giây này quý lão thành tự động điền bàn thảo luận để tìm mọi cách thành lập một nền đình, với tư cách của một công dân làm mướn cho đồng điền của Pháp lúc bấy giờ chỉ biết vào tiền lương hành tháng chưa đủ ăn, áo không đủ mặc còn thời gian hầu như được chon sục vào công việc sở hữu. Tuy vậy các cụ cũng phấn đấu cố gắng thực hiện một ngôi Đình bằng những vật liệu đơn sơ vào năm 1939 đình được lạc lạc cách gã ba Dầu Giây 700m về hứong Tây Bắc, cách quốc lộ 1 50m về phía tay phải Long Khánh- Biên Hòa đầu đường hướng dẫn về ấp Ngô Quyền, thời điểm này làm cụ trần Văn Trát làm Hội Chủ. Đồng thời có hỗ trợ tinh thần của các cụ quý như: cụ Lê Văn Thất, Nguyễn Văn Lợi, cùng chung thắt sát để xây dựng làng làng bao gồm các cụ: Nguyễn Văn Y, Hồ Văn Sử, Hồ con, Nguyễn Văn Lem, Lê thanh Thí, Nguyễn Đỏ, Nguyễn Hữu Thẩm, Nguyễn Văn Do, Nguyễn Văn Ngôn…




                                                   ĐÌNH DẦU GIẤY (1).jpg


Sau 14 năm quý cụ của 2 ấp Center và A (Trần Cao Vân, Phan Bội Châu bây giờ) đã tranh đấu đòi chủ sở hữu Pháp phải chấp thuận cho 2 ấp được thực hiện cho một ngôi đình để thờ thần thoại Hoàng xứ cũng cùng vào thời điểm này 1952 cách mạng vùng lên tập kích vào những yếu cứ, đồng bốt của pháp, xẹp lộ giao thông, điển hình vuốt giờ ở Trảng Bom cách mạng đã tập kích vào đồng Rạch Động làm Pháp trấn giữ yên ban ngày vì vấn đề an ninh mọi mặt, cuối cùng chủ sở hữu Pháp, phải chấp nhận cung cấp vật liệu, nhân công và tiền bạc để thực hiện một ngôi đình minh họa, công trình được thật sự đặt đá vào mùa xuân Quý Tỵ 1953 , diện tích 6,88x x 7,60m = 52,288m 2 trên tổng diện tích 6.510m 2 có chiều dài 105m ngang 62m (xem đồ họa bản 1). Tứ cận: Đông giáp dưỡng nước, Tây giáp lô 43, Nam giáp hương lộ Dầu Giây - Hưng Lộc, Bắc giáp Suối mủ. Thời điểm này cụ Nguyễn Văn Quý làm Hội trưởng và cụ già thuộc chức năng của Làng như: Nguyễn Văn Y, Hồ Văn Sử, Hồ con, Nguyễn Hữu Thẩm, Lê thanh Thí, Lê Văn Dẩm, Nguyễn Đỏ… từ dó dân 2 ấp và A thành lập 1 làng gọi là làng Dầu Giây và hằng năm làng đã có nơi lễ tế Thần Linh, một số dân làng đã tự động vận động cúng các Pháp Bảo để thờ tại đình trung như:

Một bộ tam sư loại tôi bằng đồng thau thờ phụng giữa quý ông:

1-     Hồ Văn Ngữ

2-     Võ Văn Khỏe

3-     Nguyễn Tựu

4-     Nguyễn Hữu Thẩm

5-     Hoàng Văn Bá

Hai bộ tam sư loại II bằng đồng thau thờ hai bàn thờ miêu tả, làm quý ông bà:

1-     Nguyễn Thị Đối

2-     Lê Thị Kiểm

3-     Nguyễn Thị Lầm

4-     Bà Bộ Đoan

5-     Lê Thị Đối

Đến năm 1961 theo nguyện vọng của làng chủ cơ sở pháp cho thực hiện thêm một tiền đình với diện tích nền 6,88m x 7m = 48,16m 2 bằng vật liệu cố gắng và một tam quan nối liền tiền đình theo kiểu Nhật Bản 4 cột Ném xe mái lợp ngói, trên nóc có gắn Lưỡng Long Triều Nguyệt, để lấy thời điểm này làm kỷ niệm Tôn Tạo ông có vấn Lê Văn Dâm đã trồng một cây đa phương Tiền Đình, đến năm 1967 ông Xu Phát cúng một trống đại, đến thời điểm cụ Quý từ trầu, làng đề cử ông Trần Ngôn ngữ làm Hội trưởng khi nhận chức vụ này ông rất tích cực phục vụ, đồng thời thành tâm xin cúng một pho tượng bằng Thạch cao biểu hiện vị Thần Hoàng, làng nhất trí và lễ yên được cử hành vào dịp lễ chung niên năm Quý Hợi (1983), cùng dịp này quý bà:

1-     Hoàng Thị Lan

2-     Nguyễn Thị Hải

3-     Lê Thị Ngân

4-     Bùi Thị Đức đã phát tâm cúng:

2 câu chữ 1 bức nổ phi thờ tại chính điện.

          Về mặt ngân sách làng không có một nguồn lợi nào khác chỉ huy động dân làng hảo tâm hỷ cung mà thôi, vì vậy cuối năm 1986 làng quyết định cho phát canh số tích còn lại thuộc về Viên của Đình để trồng cà phê đến mùa thu của người lãnh canh 1 số cà phê quy tiền rất ưu đãi để dung vào công việc trùng tu, chữa bệnh, lễ lễ thứ 3 của một năm. Anh Nguyễn Thái Học đã làm đơn xin lãnh canh ra hợp đồng với làng 10 năm kể từ 1987 đến 1997. Khi đó làng mới kéo dây đo cọ thì số phân tích được thu hẹp với lý do là người xung quanh ranh giới môi trường ngày một ít, đến khi đo lại thì đã mất số tích, hiện đạt được 4307m 2 (xem họa đồ bản 2) diện tích bị mất 2203m 2 . Đây là lỗi chung của các thời kỳ trưởng về mặt hành chánh không bàn cụ thể văn bản, bằng chứng từ không rõ rang, if nói quy trách nhiệm thực sự không biết chốt từ đâu…. Đành như vậy với số diện tích hiện có làng chấp thuận cho anh Học hợp đồng. Đồng thời làng cũng nhờ anh Học làm từ để nhìn coi hương đèn ở Đình, cùng thời điểm này (năm 1987) ông Trần Ngôn Từ trần, làng tạm thời mời ông Trần Văn An nhận chức vụ hội trưởng được 1 năm. Trong thời gian này ông không tích cực, quy cách điều hành Mã vạch, tinh thần quý cụ bị sa tốc chia lại bị kẻ xấu dèm pha đàm tiếu làm cho tình đoàn kết giữa 2 ấp bị sâu thương tổn khá trầm trọng.

          Đến năm 1989 làng quyết định triệu tập họp đặc biệt bao gồm các cụ già, tổ chức cuộc họp tại Đình Trung, sau khi bàn bạc làng quyết định mời ông Nguyễn Văn Tân là thành viên kỳ cựu nhận chức vụ trưởng , Ông tân là người có trình độ văn hóa, am hiểu khá nhiều về cổ lễ và nắm nguyễn quy điều hành, khi nhận chức vụ ông Tân đã bắt tay vào khốc chỉnh lại bộ khung của làng như:

          1 Hội trưởng: Nguyễn Văn Tân

          2 Hội phó : 1 ông Lê Văn Liễn đặc trách ấp Trần Cao Vân

                             1 ông Hồ Đức Trí Đặc ấp Phan Bội Châu

          Cố vấn 2: 1 ông Lê Văn Vọng chuyên trách ấp Trần Cao Vân

                             1 ông Lê Đức Trác Đặc ấp ấp Phan Bội Châu

          1 thư tế ông Phan Văn Điềm

          2 bồi tế ông Lê Văn Thỏn, ông Nguyễn Sáu

          1 Tướng Lễ tăng văn lễ ông Lê Văn Tài

          2 Chấp lịnh chiêng, trống ông Lê Đức Trác và ông Nguyễn Hạng

          1 tài chính thủ thuật anh Phan Văn Nhon

          2 thư ký Anh Nguyễn Ánh

                             Anh Hồ Tân


                                                                 4476.10 tháng 3.jpg


          Qua quá trình thời gian đảm bảo các bộ môn đa số có tinh thần phục vụ, tích cực trong mọi công tác luôn phấn đấu với nhưng thất bại, khác phục mọi gian khó, thường xuyên ghé thăm dò tâm tư của các hội viên, lắng nghe những ý kiến ​​khách quan có tính chất xây dựng, gạt bỏ mọi dư luận tiêu cực, chống đối những mê tín dị chất, thoái hóa và móc khung. nhưng vẫn có một số ít chức năng được nhận thành phần hành động cho phép có quy định không có khả năng nổ tham gia trong mọi công tác của đình.

          Đến năm 1991 ông Hội trưởng đề nghị sửa chữa phần nóc đình mái lợp, đòn dong bị cò ăn, ngói được các bể cây men móc gạch cũng bị sâu đục khoét, các câu đối ở các cột bị lu mờ, xét thấy rất nguy hiểm vì vậy làng chấp thuận cho sửa chữa kinh phí sử dụng hết 1.200.000đ, nông trường cao sư Dầu Giây ủng hộ 7 bao Ciment, 1 khối cát và 2000 viên gạch, anh Phan Văn Phát tâm xây 1 miếu Ngũ hành động mô tả tiền đình dưới gốc đa năng.

          Đến năm 1993 ông Hội trưởng đề nghị với làng nên thực hiện một Tam quan hướng ra mặt đường vì đây là bộ mặt ngoại phong cách, nó chính là điểm chính yếu để trang trí cho ngày đại lễ, làng chấp thuận cho thực hiện, kinh phí hết 3.200.000đ.

          Còn một công việc rất quan trọng nữa là đắp đất phần mô tả Đình vì lâu ngày nước mưa cuốn trôi chân móng móng trầm trầm, từ hội trường đến dân làng đề nghị bao nhiêu lần, nhưng không thực hiện được vì ngân khoản của làng không có.

          Với một thời gian khá dài từ 1989 đến 1996 là 7 năm, số chức làng có vị từ trần, có vị trí không tích cực tham gia mà qua các năm làng đã bổ sung để điền phong tạm thời, vì vậy làng quyết định chấn chỉnh sửa lại hệ thống tổ chức của Hội Đình làng để thuận tiện cho việc điều hành và tiện ích cho các phần hành động để cùng thi đua hầu phục vụ tốt hơn mỗi ngày.

          I. Tổ chức hệ thống:

          1. Hội trưởng có trách nhiệm lãnh đạo điều hành chung nội bộ của làng, có đủ tư cách pháp nhân địa diện cho làng trên phương diện thờ phụng, Tế lễ, cam chịu trước chính quyền về mặt tổ chức của xã hội làng làng in the signal frame.

          2. Hội phó đối nội, làm tham vọng cho trưởng phòng trong bộ môn phần hành và hoàn thành trách nhiệm điều hành nội bộ các tiểu ban chuyên hành.

          3. Hội phản đối, tham vọng cho trưởng thành về các mặt hàng lân hữu và ngoại giao.

          4. 2 Hội chuyên gia trách nhiệm thừa hành của làng thác thác khâu tổ chức như:

          - Biện pháp

          - Tiếp tân

          - Ẩm thực

          - Hào biên tập

          - Trần thiết.

          5. 1 chánh tế

              2 Bồi tế mô tả

          Có nhiệm vụ địa diện làng để tế lễ Thần Hoàng, Lễ tế tiền hiền, lễ tế âm linh tại đình Trung cũng như ở Miếu âm hồn Trần Cao Vân, mỗi năm tại đình quốc chính thức 3 kỳ.

1.      Lễ Minh niên vào ngày 1/8

2.      Lễ Thu Đường vào ngày 16/7

3.      Lễ Chung Niên vào ngày 20/12

Tại miếu âm thanh Trần Cao Vân chính thức 2 kỳ.

1.      Lễ Thu Thường vào ngày 18/7

2.      Lễ Chung Niên vào ngày 22/12

6. Tướng lễ: Tham mưu cho làng đề xuất lễ, thiết lập văn tế, lưu trữ dài văn bản chính văn tế, điều khiển các diên tế từ lúc khởi sự đến hoàn mãn.

7. Văn lễ: Có nhiệm vụ đọc văn tế và phụ giúp tướng lễ trong khâu điều khiển các diên tế.

8. Chấp nhận lệnh là một địa chỉ cho làng để tạo ra sự trống rỗng của lệnh, phải có cách riêng và hiểu được cổ lễ.

9. Tài chính có trách nhiệm điều hành ngân sách và hành chính của làng, chỉ đọc cho thư ký và thủ thuật hoàn thành nhiệm vụ giao phó, chịu trách nhiệm liên cam trách nhiệm khi có những sai sót đau đớn tiếc ra.

10. Thư ký có nhiệm vụ quản lý hồ sơ, thiết lập công văn có liên quan đến công việc của làng kể cả những công tác đột xuất, nhập tu hồ sơ, sổ sách như: Sổ vàng của làng, phong sách cung phụng , biểu tượng tổ chức…

11. Thủ tục: có nhiệm vụ giữ tài khoản của làng, thu thập dưới điều hành của trưởng ban tài chính, ngược lại không có bằng chứng từ chính minh thủ hoàn toàn cam kết trách nhiệm thường xuyên.

12. Quản lý: có trách nhiệm quản lý tài sản bất động sản của làng từ ngọn cây đến tất cả đất đến các tổ chức Pháp bảo phungj tại đình Trung địa diện làng để xử lý cá sự nghiệp trong tầm trách nhiệm.

13. Kiểm soát là bộ môn tai mắt của làng, kiểm tra các tiểu ban trong tình hơn bác ái xây dựng, báo cáo với làng ưu, vũ điểm nếu có để đáp ứng thời gian thu nhận và chữa cháy.

14. Nhang đăng: Nhiệm vụ khi các diên tế khởi sự cho đến khi hoàn mãn, xem xét các bàn mình cam chịu trách nhiệm, từ lúc lễ túc đến lễ tất cả phải thường xuyên đốt hương đèn tại đình Trung không được sao lãng.

15. Lễ sinh nhiệm vụ hành lễ theo nghi thức và cách thực hiện Tướng lễ hướng dẫn và điều khiển trong các diên tế.

16. Từ: Nhiệm vụ trông coi hang ngày quét leo tầng đốt đèn đỏ hồng đỏ rằm tứ quý kể cả ngày thường, bảo quản các vật dụng do ban quản lý thác thác, và chịu sự bồi thường những gì mất mát mẻ bể không có lý do gì để làm.


                                                         daugiay.jpg

Sau khi ban chức sự, láng đã thiết kế lễ tại Đình Trung do ban chức nghi lễ Thần linh và xin hạ quyết tâm phục vụ, không vì quyền lợi cá nhân để trục lợi, không vì tự ti mặc cảm mà sao lãng phần hành động, lấy tinh thần bác ái vị tha để điều hành và xây dựng, đồng thời làng cũng mời 2 vị lão thành làm cố vấn mọi mặt cho Ban tổ chức hầu đtạ được kết quả mỹ mãn hơn.

Bản tiểu sử và tổ chức điều hành này biên soạn mục tiêu hiện tại điều hành tốt nhất và lưu truyền cho các hệ thống sau làm nền tảng trung nguyên Nguồn gốc và thừa hành nguyên tắc cho hậu hậu.

 Lập trình và biên tập

Tướng lễ

    (đã ký)

 

LÊ VĂN TÀI

 

Làng Dầu Giây ngày 10 tháng 12 năm Đinh sửu

Hội trưởng làng làng Dầu Giây

(đã ký và đóng dấu)

 

 

 

NGUYỄN VĂN TÂN


Liên kết website

Số lượt truy cập

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN THỐNG NHẤT - ĐỒNG NAI

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất 
Chịu trách nhiệm: ông Trần Đức Hòa - Trưởng Ban biên tập Website 
Địa chỉ: Khu phố Lập Thành, thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai 
 Email: pvhtt-tn@dongnai.gov.vn​; UBND huyện Thống Nhất: Sđt 02513771168